Quy định về các chế độ bảo hiểm cho người khuyết tật

các chế độ bảo hiểm cho người khuyết tật

Bảo hiểm xã hội là chính sách an sinh xã hội tân tiến nhằm hỗ trợ mọi công dân và người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống. Trong đó đối tượng người khuyết tật luôn được nhà nước quan tâm và hỗ trợ thông qua các chế độ bảo hiểm cho người khuyết tật. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Các chế độ bảo hiểm cho người khuyết tật

Các chế độ bảo hiểm đối với người khuyết tật (xin được viết tắt là NKT) hiện nay gồm có: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp xã hội, tiền hỗ trợ hàng tháng với người khuyết tật được quy định tại:

  • Luật bảo hiểm xã hội năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
  • Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • Luật Việc làm năm 2013;
  • Luật Người khuyết tật năm 2010;

Chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Người khuyết tật là đối tượng người lao động (Viết tắt NLĐ) được hưởng các chế độ BHXH, BHTN giống như NLĐ bình thường khác và được hưởng quyền lợi từ các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí & tử tuất; được hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm.

Bên cạnh đó, Luật BHXH và Luật việc làm cũng không có quy định gì về mức đóng BHXH dành riêng cho đối tượng NLĐ là NKT, do đó, NKT đóng BHXH với mức đóng như của NLĐ bình thường khác.

Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

Căn cứ quy định tại Điều 44 Luật người khuyết tật, những đối tượng được hưởng trợ cấp và hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng gồm có:

Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (1)

  • Người khuyết tật đặc biệt nặng;
  • Người khuyết tật nặng.

Đối tượng hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng (2)

  • Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;
  • Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;
  • Người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Qua đây, có thể thấy không phải đối tượng là người khuyết tật nào cũng được hưởng trợ cấp xã hội hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng mà sẽ căn cứ vào mức độ khuyết tật để xác định chế độ hưởng trợ cấp phù hợp.

Chế độ Bảo hiểm Y tế

Nguồn ảnh: ebh.vn

Chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) dành cho người khuyết tật cũng được xác định dựa trên mức độ khuyết tật. Theo đó sẽ có các trường hợp sau:

TH1: NKT thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo (1) sẽ do ngân sách Nhà nước đóng BHYT và sẽ được hưởng bảo hiểm với mức hưởng là 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

TH2: NKT không thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thì chế độ, mức đóng BHYT được thực hiện bình thường theo quy định của Luật bảo hiểm y tế.

TH3: NKT thuộc TH1 có tham gia quan hệ lao động và thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT bắt buộc (vừa là người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động, vừa thuộc diện người được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng).

Căn cứ theo quy định tại Điều 13 Luật Bảo hiểm Y tế, NKT đóng bảo hiểm y tế theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật BHYT.

Như vậy, trong TH này cần xác định NKT là người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội trước, hay tham gia lao động trước để quy định xem bên nào đóng BHYT.

Quy định về cấp thẻ bảo hiểm y tế

Người khuyết tật cần xác định mình thuộc nhóm đối tượng và tham gia những chế độ bảo hiểm nào, có được hưởng chính sách bảo trợ xã hội không để từ đó thực hiện những thủ tục phù hợp.

Quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, theo đó

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

Điểm c Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế

c) Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng;

Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24/11/2014 hướng dẫn thực hiện cấp thẻ BHYT.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách tham gia BHYT của các đối tượng quy định tại các Khoản 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều 1 Thông tư này theo hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các Điểm a, l và Điểm n Khoản 3, Điểm b Khoản 4 Điều 1 Thông tư này, gửi Bảo hiểm xã hội cấp huyện, cụ thể như sau:
a) Năm 2015, Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách tham gia BHYT trên địa bàn và gửi 01 bản danh sách về Bảo hiểm xã hội cấp huyện chậm nhất là ngày 01 tháng 10 năm 2015;
b) Từ năm 2016, hằng tháng Ủy ban nhân dân xã lập danh sách tăng, giảm đối tượng tham gia BHYT trên địa bàn và gửi 01 bản danh sách về Bảo hiểm xã hội cấp huyện để điều chỉnh việc cấp thẻ BHYT trên địa bàn.

Như vậy, căn cứ vào những quy định trên, NKT bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được xác định là người khuyết tật đặc biệt nặng, được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí theo đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội. Người thân của NKT có thể đăng ký nhận hỗ trợ cho NKT tại UBND cấp xã nơi cư trú.

Nơi đăng ký và nhận thẻ bảo hiểm y tế

UBND có trách nhiệm lập danh sách NKT được tham gia BHYT và gửi cơ quan BHXH để cấp thẻ BHYT theo đúng quy định.

Như vậy trong bài viết trên đây bhxh.edu.vn đã chia sẻ đến bạn đọc các thông tin cần thiết nhất về các chế độ bảo hiểm đối với người khuyết tật. Hy vọng rằng bài viết này sẽ mang đến những thông tin hữu ích nhất. nếu bạn đọc có những câu hỏi cần được giải đáp về chủ đề này. Hãy để lại bình luận dưới bài viết này để được hỗ trợ tốt nhất nhé.

Cảm ơn bạn đọc đã theo dõi bài viết này.

Có thể bạn quan tâm:

👉 Nếu bạn thấy nội dung này hữu ích hãy chia sẻ nó nhé!

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*